(Kỳ 1)
Tự do ngôn luận và tự do về tư tưởng là những quyền con người cơ bản được Hiến pháp, Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 bảo vệ. Nhà luật học Jean Rivero phân chia quyền con người thành ba loại: Quyền tự nhiên, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội, quyền được hưởng từ các chính sách của Nhà nước nhằm chăm lo cho con người. Quyền con người thuộc thế hệ thứ nhất là những quyền tự nhiên nếu thiếu chúng, tự do, hạnh phúc của con người sẽ không được đảm bảo. Quyền được sống, tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo là các quyền cơ bản thuộc thế hệ thứ nhất.
Sống trong một xã hội văn minh, công dân tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội. Quyền tự do lập hội, thành lập các đảng phái chính trị hoạt động trong khuôn khổ của luật pháp, quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền biểu tình, đình công... là các quyền quan trọng của công dân thuộc thế hệ thứ hai. Các quyền về chính trị và xã hội này cần được Nhà nước tôn trọng vì đây là những tiêu chuẩn đánh giá mức độ dân chủ của mỗi nước. Quyền con người thuộc thế hệ thứ ba bao gồm những lợi ích mà Nhà nước đem lại với mục đích giúp cho con người trở nên hoàn thiện. Các quyền này bao gồm quyền được chăm sóc y tế khi đau ốm, quyền được học hành, quyền lao động...
Tự do ngôn luận là quyền được nói và viết ra những suy nghĩ của mình mà không sợ bị đe dọa hay bắt bớ. Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 có nội dung khái quát nhưng khá đầy đủ về tự do ngôn luận: "Tự do bày tỏ suy nghĩ hay trình bày quan điểm là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Công dân có quyền nói, viết, truyền bá các thông tin, trừ những trường hợp bị pháp luật ngăn cấm khi lạm dụng quyền này".